Mục Lục
Bạn đang tìm hiểu về quy định liên quan đến con trong thời kỳ hôn nhân, cách xác định con chung vợ chồng? Tại bài viết này, Công ty Luật Minh Lang sẽ giúp bạn trả lời.

Con trong thời kỳ hôn nhân phân chia như thế nào?
Theo quy định của Luật Hôn nhân và Gia đình 2014, con trong thời kỳ hôn nhân được xác định như sau:
1. Con chung của vợ chồng:
- Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân.
- Con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân, sinh ra trong vòng 300 ngày kể từ ngày chấm dứt hôn nhân.
- Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn nhưng được cha mẹ thừa nhận là con chung.
2. Con riêng của vợ hoặc chồng:
- Con do vợ hoặc chồng sinh ra trước khi kết hôn.
- Con do vợ hoặc chồng sinh ra trong thời kỳ hôn nhân nhưng không phải là con chung của vợ chồng (do có căn cứ xác định cha mẹ khác).
3. Con nuôi:
- Con do vợ hoặc chồng hoặc cả hai vợ chồng nhận nuôi theo quy định của pháp luật.
Lưu ý:
- Việc xác định cha mẹ của con có thể được thực hiện theo nhiều cách, bao gồm khai sinh, xét nghiệm ADN, quyết định của tòa án,…
- Cha mẹ có trách nhiệm nuôi dưỡng, giáo dục con cái của mình, bất kể con là con chung, con riêng hay con nuôi.
Ví dụ:
- Ông A và bà B kết hôn vào ngày 1/1/2023. Vào ngày 1/10/2023, bà B sinh con. Theo quy định của pháp luật, con của bà B được coi là con chung của ông A và bà B.
- Ông C và bà D kết hôn vào ngày 1/1/2023. Bà D đã có một con gái tên X sinh ra trước khi kết hôn với ông C. Sau khi kết hôn, ông C đồng ý nhận nuôi con gái X của bà D. Vậy, X là con nuôi của ông C.
Người cha có quyền yêu cầu xác định con trong thời kỳ hôn nhân không?
Theo quy định tại Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình 2014 về người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con như sau:
Người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con
1. Cha, mẹ, con đã thành niên không bị mất năng lực hành vi dân sự có quyền yêu cầu cơ quan đăng ký hộ tịch xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 101 của Luật này.
2. Cha, mẹ, con, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định con, cha, mẹ cho mình trong trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này.
3. Cá nhân, cơ quan, tổ chức sau đây, theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, có quyền yêu cầu Tòa án xác định cha, mẹ cho con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự; xác định con cho cha, mẹ chưa thành niên hoặc mất năng lực hành vi dân sự trong các trường hợp được quy định tại khoản 2 Điều 101 của Luật này:
a) Cha, mẹ, con, người giám hộ;
b) Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình;
c) Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em;
d) Hội liên hiệp phụ nữ
Theo quy định trên thì người chồng trong quan hệ hôn nhân có quyền yêu cầu xác định con.
Thẩm quyền giải quyết việc xác định con:
1. Cơ quan đăng ký hộ tịch:
- Có thẩm quyền xác định cha, mẹ, con trong trường hợp không có tranh chấp, theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
- Cụ thể, cơ quan đăng ký hộ tịch sẽ căn cứ vào các yếu tố như giấy khai sinh, giấy kết hôn, hồ sơ lý lịch của cha mẹ,… để xác định mối quan hệ cha mẹ con.
2. Tòa án nhân dân:
- Có thẩm quyền giải quyết việc xác định cha, mẹ, con trong các trường hợp sau:
- Có tranh chấp về việc xác định cha, mẹ, con.
- Người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã chết.
- Trường hợp quy định tại Điều 92 Luật Hôn nhân và Gia đình 2014 (trường hợp vợ chồng nhận con nuôi nhưng sau đó hủy bỏ việc nhận nuôi).
- Việc giải quyết tranh chấp về xác định cha, mẹ, con tại tòa án được thực hiện theo thủ tục tố tụng dân sự.
3. Các trường hợp đặc biệt:
- Trong trường hợp cha, mẹ, con đều đã chết hoặc không thể liên lạc được, việc xác định cha, mẹ, con có thể được thực hiện theo thủ tục tố tụng hành chính tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Trường hợp con là người nước ngoài, việc xác định cha, mẹ, con có thể được thực hiện theo quy định của pháp luật quốc tế hoặc thỏa thuận quốc tế mà Việt Nam đã ký kết.
Lưu ý:
- Việc xác định cha, mẹ, con có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi của trẻ em, đảm bảo các nghĩa vụ và trách nhiệm của cha mẹ đối với con.
- Do đó, khi có nhu cầu xác định cha, mẹ, con, các cá nhân, tổ chức liên quan cần thực hiện theo đúng quy định của pháp luật để đảm bảo tính hợp pháp và chính xác của việc xác định.
Khi xác định con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân không phải con của mình thì người chồng có được yêu cầu từ chối nhận cha con không?
Theo quy định tại Điều 88 Luật Hôn nhân và gia đình 2014, con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
Đồng thời con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân. Và con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng.
Tuy nhiên trong trường hợp người vợ chung sống và có con với người khác trong thời kỳ hôn nhân thì người chồng vẫn có quyền không nhận con.
Cụ thể, nếu không muốn thừa nhận con thì người chồng có thể gửi yêu cầu đến Toà án và cung cấp kèm theo chứng cứ để Toà án xác nhận người con không phải con chung của hai vợ chồng.
Cơ sở pháp lý
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
- Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Hy vọng rằng những thông tin bài viết trên sẽ hữu ích cho bạn. Liên hệ Luật sư làm việc tại Văn phòng, chi nhánh ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Hà Tĩnh, Nhật Bản,… theo các phương thức sau:
- Email: Luatminhlang@gmail.com
- Điện thoại: 0943.640.789 (Zalo)
- Fanpage: https://www.facebook.com/luatminhlang
- Website: https://www.luatminhlang.vn/
Luật Minh Lang là một trong những Văn phòng luật sư chuyên về ly hôn hàng đầu tại Việt Nam. Với đội ngũ Luật sư giỏi, uy tín và chuyên nghiệp. Luật Minh Lang tự tin có thể giải đáp tất cả các câu hỏi liên quan đến lĩnh vực này. Chúng tôi có thể hỗ trợ bạn giải quyết thủ tục một cách nhanh chóng, đảm bảo quyền lợi tốt nhất ở tất cả các tỉnh thành của Việt Nam






