Tương trợ tư pháp điện tử là bước phát triển mới trong cơ chế hợp tác giữa Việt Nam và nước ngoài trong giải quyết các vụ việc dân sự, phá sản và thi hành án dân sự có yếu tố nước ngoài. Thay vì chỉ trao đổi hồ sơ giấy thông qua các kênh truyền thống, pháp luật hiện hành đã đặt nền tảng cho việc tiếp nhận, xử lý, lưu trữ và trao đổi yêu cầu tương trợ tư pháp trên môi trường điện tử.
Từ ngày 01/07/2026, Luật Tương trợ tư pháp về dân sự số 102/2025/QH15 có hiệu lực và chính thức ghi nhận Hệ thống thông tin tương trợ tư pháp về dân sự trên môi trường điện tử cũng như cơ chế thực hiện tương trợ tư pháp điện tử giữa Việt Nam và nước ngoài.
Vậy tương trợ tư pháp điện tử được thực hiện như thế nào? Hệ thống thông tin tương trợ tư pháp về dân sự có vai trò gì? Hồ sơ điện tử có thay thế hoàn toàn hồ sơ giấy hay chưa? Bài viết dưới đây phân tích quy định mới nhất.
1. Tương trợ tư pháp điện tử là gì?
Luật Tương trợ tư pháp về dân sự số 102/2025/QH15 không đưa ra một định nghĩa riêng về “tương trợ tư pháp điện tử”. Tuy nhiên, Điều 35 quy định về tương trợ tư pháp về dân sự trên môi trường điện tử, theo đó Chính phủ hướng dẫn việc thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam và của nước ngoài trên môi trường điện tử căn cứ vào điều kiện kinh tế – xã hội, nhu cầu và khả năng thực hiện trong từng thời kỳ.
Có thể hiểu, tương trợ tư pháp điện tử là việc thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự thông qua môi trường điện tử, bao gồm việc trao đổi, tiếp nhận, xử lý, lưu trữ thông tin, hồ sơ và kết quả tương trợ tư pháp theo cơ chế được pháp luật và điều ước quốc tế cho phép.
Theo Điều 3 Luật 102/2025/QH15, tương trợ tư pháp về dân sự là hoạt động hợp tác, hỗ trợ giữa Việt Nam và nước ngoài thông qua cơ quan, người có thẩm quyền nhằm thực hiện các hoạt động tương trợ tư pháp để giải quyết vụ việc dân sự, phá sản và thi hành án dân sự.
Như vậy, “điện tử” là phương thức thực hiện, còn nội dung tương trợ vẫn phải thuộc phạm vi mà pháp luật về tương trợ tư pháp về dân sự cho phép.
2. Căn cứ pháp lý về tương trợ tư pháp điện tử
Các văn bản pháp luật quan trọng hiện nay gồm:
- Luật Tương trợ tư pháp về dân sự số 102/2025/QH15 ngày 26/11/2025, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026;
- Nghị định 158/2026/NĐ-CP ngày 15/05/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, có hiệu lực từ 01/07/2026;
- Thông tư 07/2026/TT-BTP ngày 16/05/2026 của Bộ Tư pháp về trình tự, thủ tục thu, nộp chi phí thực tế, thực hiện tống đạt giấy tờ của nước ngoài và các mẫu văn bản trong tương trợ tư pháp về dân sự, có hiệu lực từ 01/07/2026.
Trong đó, Luật 102/2025/QH15 là căn cứ pháp lý trực tiếp nhất đối với tương trợ tư pháp điện tử, đặc biệt tại Điều 13, Điều 33, Điều 34 và Điều 35.
3. Hệ thống thông tin tương trợ tư pháp về dân sự trên môi trường điện tử
3.1. Hệ thống thông tin được pháp luật ghi nhận
Điều 13 Luật Tương trợ tư pháp về dân sự quy định Hệ thống thông tin tương trợ tư pháp về dân sự trên môi trường điện tử được xây dựng, hoàn thiện và vận hành nhằm:
- Bảo đảm xử lý thông tin tương trợ tư pháp về dân sự;
- Lưu trữ thông tin tương trợ tư pháp;
- Bảo đảm an toàn, an ninh thông tin theo quy định pháp luật.
Chính phủ được giao hướng dẫn thi hành Điều 13.
Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để chuyển hoạt động tương trợ tư pháp từ phương thức chủ yếu dựa trên hồ sơ giấy sang mô hình có hạ tầng thông tin điện tử chuyên biệt.
3.2. Bộ Tư pháp có trách nhiệm xây dựng và vận hành hệ thống
Nghị định 158/2026/NĐ-CP quy định Bộ Tư pháp có trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng, quản lý, vận hành, bảo trì, bảo dưỡng và nâng cấp Hệ thống thông tin tương trợ tư pháp về dân sự.
Điều này cho thấy hệ thống điện tử không chỉ là phương tiện trao đổi hồ sơ thông thường mà được xác định là một hạ tầng phục vụ quản lý và thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự.
4. Hồ sơ tương trợ tư pháp điện tử có thay thế hồ sơ giấy không?
Đây là vấn đề được nhiều cơ quan, tổ chức quan tâm khi thực hiện tương trợ tư pháp điện tử.
Luật 102/2025/QH15 quy định hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp của Việt Nam về nguyên tắc gồm 03 bộ. Tuy nhiên, khi Hệ thống thông tin tương trợ tư pháp về dân sự theo Điều 13 được vận hành thì số lượng hồ sơ giấy giảm xuống 02 bộ, kèm theo hồ sơ điện tử.
Quy định này cho thấy pháp luật hiện hành đang hướng đến mô hình kết hợp giữa hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử, thay vì mặc nhiên hiểu rằng toàn bộ thủ tục đã được chuyển sang hình thức điện tử.
Do đó, trong giai đoạn triển khai, cơ quan có thẩm quyền cần xác định:
- Hệ thống thông tin đã được vận hành đối với loại yêu cầu cụ thể hay chưa;
- Điều ước quốc tế liên quan có cho phép trao đổi điện tử hay không;
- Nước được yêu cầu có chấp nhận phương thức điện tử hay không;
- Thành phần hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử cần chuẩn bị như thế nào.
5. Tiếp nhận yêu cầu tương trợ tư pháp của nước ngoài trên môi trường điện tử
Điều 33 Luật Tương trợ tư pháp về dân sự quy định riêng về tiếp nhận yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của nước ngoài trên môi trường điện tử.
Theo đó, việc tiếp nhận được thực hiện theo điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên.
Trường hợp Việt Nam và nước ngoài không cùng là thành viên của điều ước quốc tế, hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên không quy định về vấn đề này nhưng nước yêu cầu đề nghị chuyển giao yêu cầu tương trợ tư pháp trên môi trường điện tử, Bộ Tư pháp thống nhất với cơ quan, người có thẩm quyền của nước ngoài về cách thức tiếp nhận và trả kết quả.
Quy định này tạo cơ chế linh hoạt cho các trường hợp chưa có điều ước quốc tế quy định cụ thể về trao đổi hồ sơ điện tử.
Tuy nhiên, không nên hiểu rằng mọi quốc gia đều có thể tự động gửi hồ sơ tương trợ tư pháp điện tử cho Việt Nam. Phương thức tiếp nhận phải phù hợp với điều ước quốc tế hoặc được thống nhất giữa các cơ quan có thẩm quyền.
6. Thu thập chứng cứ bằng hình thức lấy lời khai trực tuyến
Một nội dung nổi bật khác của tương trợ tư pháp điện tử là thu thập chứng cứ bằng biện pháp lấy lời khai trực tuyến.
Theo Điều 34 Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, cơ quan, người có thẩm quyền của nước ngoài có thể thực hiện việc thu thập chứng cứ bằng hình thức lấy lời khai trực tuyến đối với đương sự nước ngoài có trụ sở hoặc đang cư trú tại Việt Nam nếu đáp ứng các điều kiện luật định.
Các điều kiện chủ yếu gồm:
Thứ nhất, phải tôn trọng chủ quyền Việt Nam
Việc lấy lời khai phải bảo đảm độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Vụ việc không được liên quan đến an ninh quốc gia, chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam hoặc có yếu tố phức tạp về chính trị với Việt Nam.
Thứ hai, đương sự phải tự nguyện tham gia
Việc lấy lời khai trực tuyến chỉ được thực hiện khi đương sự nước ngoài tự nguyện tham gia.
Đây là điều kiện quan trọng nhằm bảo đảm quyền của đương sự và giới hạn việc cơ quan nước ngoài tiến hành hoạt động tố tụng trực tiếp trên lãnh thổ Việt Nam.
Thứ ba, phải bảo đảm an toàn thông tin
Pháp luật yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, dữ liệu và sử dụng công nghệ, đường truyền được mã hóa.
7. Trình tự thực hiện lấy lời khai trực tuyến của nước ngoài tại Việt Nam
Theo Điều 34 Luật 102/2025/QH15, cơ quan, người có thẩm quyền của nước ngoài có yêu cầu thu thập chứng cứ bằng hình thức lấy lời khai trực tuyến phải gửi yêu cầu bằng văn bản đến Bộ Tư pháp, đồng thời cam kết bảo đảm các điều kiện theo luật định.
Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan xem xét yêu cầu.
Nghị định 158/2026/NĐ-CP cũng quy định về việc thực hiện yêu cầu thu thập chứng cứ bằng biện pháp lấy lời khai trực tuyến của nước ngoài.
Như vậy, việc lấy lời khai trực tuyến không phải là một cuộc làm việc trực tiếp mà cơ quan nước ngoài có thể tự tổ chức tại Việt Nam. Hoạt động này phải được thực hiện thông qua cơ chế tương trợ tư pháp và chịu sự điều phối của cơ quan có thẩm quyền Việt Nam.
8. Tương trợ tư pháp điện tử có áp dụng cho mọi hoạt động tương trợ không?
Không nên hiểu như vậy.
Điều 8 Luật Tương trợ tư pháp về dân sự quy định phạm vi tương trợ tư pháp gồm:
- Tống đạt giấy tờ;
- Thu thập, cung cấp chứng cứ;
- Triệu tập người làm chứng, người giám định;
- Cung cấp giấy tờ hộ tịch và trích lục bản án, quyết định về hộ tịch;
- Cung cấp thông tin pháp luật;
- Các hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự khác.
Trong khi đó, Điều 35 chỉ quy định Chính phủ hướng dẫn việc thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự trên môi trường điện tử căn cứ vào điều kiện kinh tế – xã hội, nhu cầu và khả năng thực hiện trong từng thời kỳ.
Do đó, việc một hoạt động thuộc phạm vi tương trợ tư pháp không đồng nghĩa với việc hoạt động đó đương nhiên được thực hiện hoàn toàn bằng phương thức điện tử.

9. Ưu điểm của tương trợ tư pháp điện tử
Việc xây dựng cơ chế tương trợ tư pháp điện tử có thể hỗ trợ:
Rút ngắn thời gian trao đổi hồ sơ: Hồ sơ điện tử có thể được truyền nhận nhanh hơn so với phương thức gửi hồ sơ giấy qua nhiều đầu mối.
Tăng khả năng theo dõi hồ sơ: Hệ thống thông tin tập trung có thể hỗ trợ quản lý tình trạng xử lý, kết quả và lịch sử trao đổi.
Giảm chi phí hành chính: Việc giảm số lượng hồ sơ giấy và tăng cường trao đổi điện tử có thể hạn chế một số chi phí in ấn, sao gửi và vận chuyển.
Tăng tính bảo mật: Hệ thống chuyên biệt được pháp luật yêu cầu bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và dữ liệu.
Hỗ trợ hoạt động lấy lời khai trực tuyến: Trong trường hợp đáp ứng điều kiện luật định, cơ quan nước ngoài có thể thực hiện lấy lời khai trực tuyến đối với đương sự nước ngoài tại Việt Nam.
10. Những lưu ý khi thực hiện tương trợ tư pháp điện tử
10.1. Kiểm tra điều ước quốc tế
Nếu Việt Nam và nước liên quan cùng là thành viên của điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp dân sự, cần ưu tiên kiểm tra quy định của điều ước về phương thức trao đổi và tiếp nhận hồ sơ.
10.2. Không tự ý gửi hồ sơ điện tử ngoài hệ thống hoặc cơ chế được chấp nhận
Hồ sơ điện tử phải được truyền nhận theo phương thức được pháp luật, điều ước quốc tế hoặc cơ quan có thẩm quyền thống nhất.
10.3. Bảo đảm yêu cầu về ngôn ngữ
Việc chuyển sang môi trường điện tử không làm mất yêu cầu về ngôn ngữ. Hồ sơ vẫn phải đáp ứng Điều 7 Luật Tương trợ tư pháp về dân sự và yêu cầu của nước được yêu cầu.
10.4. Bảo đảm an toàn dữ liệu
Các tài liệu tương trợ tư pháp có thể chứa thông tin cá nhân, tài liệu tố tụng và chứng cứ. Vì vậy, việc truyền nhận và lưu trữ phải bảo đảm yêu cầu về an toàn, an ninh thông tin.
11. Câu hỏi thường gặp về tương trợ tư pháp điện tử
Tương trợ tư pháp điện tử được quy định tại đâu?
Căn cứ trực tiếp là Điều 13 và Điều 35 Luật Tương trợ tư pháp về dân sự số 102/2025/QH15. Ngoài ra, Điều 33 quy định việc tiếp nhận yêu cầu của nước ngoài trên môi trường điện tử và Điều 34 quy định về lấy lời khai trực tuyến.
Hồ sơ tương trợ tư pháp có thể nộp hoàn toàn online không?
Không nên mặc nhiên xác định như vậy. Luật quy định khi Hệ thống thông tin tương trợ tư pháp về dân sự được vận hành thì hồ sơ của Việt Nam gồm 02 bộ hồ sơ giấy kèm hồ sơ điện tử. Việc thực hiện hoàn toàn trên môi trường điện tử còn phụ thuộc vào quy định triển khai, điều ước quốc tế và khả năng thực hiện trong từng thời kỳ.
Nước ngoài có thể lấy lời khai trực tuyến tại Việt Nam không?
Có thể, nhưng phải đáp ứng các điều kiện tại Điều 34 Luật 102/2025/QH15, trong đó có yêu cầu về chủ quyền, sự tự nguyện của đương sự và an toàn, an ninh thông tin.
Cơ quan nào quản lý Hệ thống thông tin tương trợ tư pháp về dân sự?
Nghị định 158/2026/NĐ-CP giao Bộ Tư pháp chủ trì xây dựng, quản lý, vận hành, bảo trì, bảo dưỡng và nâng cấp Hệ thống thông tin tương trợ tư pháp về dân sự.
12. Căn cứ pháp lý mới nhất
Các văn bản cần tham khảo khi thực hiện tương trợ tư pháp điện tử gồm:
- Luật Tương trợ tư pháp về dân sự số 102/2025/QH15 ngày 26/11/2025, đặc biệt Điều 7, Điều 8, Điều 13, Điều 17, Điều 33, Điều 34 và Điều 35; có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.
- Nghị định 158/2026/NĐ-CP ngày 15/05/2026 của Chính phủ, có hiệu lực từ 01/07/2026, quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tương trợ tư pháp về dân sự.
- Thông tư 07/2026/TT-BTP ngày 16/05/2026, có hiệu lực từ 01/07/2026, quy định về trình tự, thủ tục thu, nộp chi phí thực tế, tống đạt giấy tờ của nước ngoài và mẫu văn bản trong tương trợ tư pháp về dân sự.
Kết luận
Tương trợ tư pháp điện tử là một nội dung mới đáng chú ý của Luật Tương trợ tư pháp về dân sự số 102/2025/QH15. Luật đã đặt nền tảng cho việc xây dựng Hệ thống thông tin tương trợ tư pháp về dân sự trên môi trường điện tử, đồng thời quy định cơ chế tiếp nhận yêu cầu của nước ngoài bằng phương thức điện tử và thu thập chứng cứ thông qua lấy lời khai trực tuyến trong những điều kiện nhất định.
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa việc pháp luật đã ghi nhận cơ chế tương trợ tư pháp điện tử và việc tất cả thủ tục đã được thực hiện hoàn toàn trực tuyến. Việc áp dụng thực tế vẫn phụ thuộc vào hệ thống thông tin được vận hành, điều ước quốc tế, quy định triển khai của Chính phủ và khả năng thực hiện trong từng thời kỳ.
Hy vọng rằng những thông tin bài viết trên sẽ hữu ích cho bạn. Liên hệ Luật sư làm việc tại Văn phòng, chi nhánh ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Hà Tĩnh, Nhật Bản,… theo các phương thức sau:
- Email: Luatminhlang@gmail.com
- Điện thoại: 0943.640.789 (Zalo)
- Fanpage: https://www.facebook.com/luatminhlang
- Website: https://www.luatminhlang.vn/
Luật Minh Lang là một trong những Văn phòng luật sư chuyên tư vấn về luật doanh nghiệp hàng đầu tại Việt Nam. Với đội ngũ Luật sư giỏi, uy tín và chuyên nghiệp. Luật Minh Lang tự tin có thể giải đáp tất cả các câu hỏi liên quan đến lĩnh vực này. Chúng tôi có thể hỗ trợ bạn giải quyết thủ tục một cách nhanh chóng, đảm bảo quyền lợi tốt nhất ở tất cả các tỉnh thành của Việt Nam.





