Thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến theo quy định mới nhất năm 2026

Thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến là một trong những nội dung mới đáng chú ý của pháp luật Việt Nam về tương trợ tư pháp về dân sự. Cùng với quá trình chuyển đổi số, việc trao đổi hồ sơ, tiếp nhận yêu cầu và thực hiện một số hoạt động tương trợ tư pháp trên môi trường điện tử được pháp luật từng bước ghi nhận.

Luật Tương trợ tư pháp về dân sự số 102/2025/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/07/2026, tạo cơ sở pháp lý cho việc xây dựng Hệ thống thông tin tương trợ tư pháp về dân sự trên môi trường điện tử. Đồng thời, Luật quy định riêng về tiếp nhận yêu cầu của nước ngoài trên môi trường điện tử và việc thu thập chứng cứ bằng hình thức lấy lời khai trực tuyến trong những điều kiện nhất định.

Vậy thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến được hiểu như thế nào? Hồ sơ có thể gửi hoàn toàn online hay không? Cơ quan nước ngoài có được trực tiếp lấy lời khai của đương sự tại Việt Nam qua hình thức trực tuyến? Bài viết dưới đây phân tích các quy định mới nhất.

1. Thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến là gì?

Luật Tương trợ tư pháp về dân sự năm 2025 không định nghĩa riêng thuật ngữ “thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến”. Tuy nhiên, Điều 13, Điều 33, Điều 34 và Điều 35 của Luật đã tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự trên môi trường điện tử.

Theo Điều 3 Luật 102/2025/QH15, tương trợ tư pháp về dân sự là hoạt động hợp tác, hỗ trợ giữa Việt Nam và nước ngoài thông qua cơ quan, người có thẩm quyền của hai bên để thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp nhằm giải quyết vụ việc dân sự, vụ việc phá sản và việc thi hành án dân sự.

Từ đó, có thể hiểu thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến là việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự thông qua môi trường điện tử, theo hệ thống, phương thức và điều kiện được pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế hoặc cơ quan có thẩm quyền chấp nhận.

Điểm cần lưu ý là trực tuyến chỉ phản ánh phương thức thực hiện. Không phải tất cả các hoạt động tương trợ tư pháp đều mặc nhiên được thực hiện hoàn toàn bằng hình thức điện tử.

2. Căn cứ pháp lý về thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến

Các văn bản pháp lý quan trọng gồm:

  • Luật Tương trợ tư pháp về dân sự số 102/2025/QH15 ngày 26/11/2025, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026;
  • Nghị định 158/2026/NĐ-CP ngày 15/05/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026;
  • Thông tư 07/2026/TT-BTP ngày 16/05/2026 của Bộ Tư pháp về trình tự, thủ tục thu, nộp chi phí thực tế, thực hiện tống đạt giấy tờ của nước ngoài và các mẫu văn bản trong tương trợ tư pháp về dân sự, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.

Trong đó, Luật 102/2025/QH15 là căn cứ trực tiếp nhất đối với cơ chế điện tử, còn Nghị định 158/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số nội dung được Luật giao Chính phủ hướng dẫn.

3. Hệ thống thông tin tương trợ tư pháp về dân sự trên môi trường điện tử

Một trong những nền tảng quan trọng để thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến là Hệ thống thông tin tương trợ tư pháp về dân sự trên môi trường điện tử.

Theo Điều 13 Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, hệ thống này được xây dựng, hoàn thiện và vận hành để phục vụ việc xử lý, lưu trữ thông tin tương trợ tư pháp về dân sự, đồng thời bảo đảm an toàn, an ninh thông tin theo quy định pháp luật.

Nghị định 158/2026/NĐ-CP là văn bản hướng dẫn thi hành Luật và có hiệu lực cùng thời điểm với Luật từ ngày 01/07/2026.

Việc xây dựng hệ thống chuyên biệt có ý nghĩa trong việc:

  • Tiếp nhận và xử lý thông tin;
  • Quản lý hồ sơ tương trợ tư pháp;
  • Trao đổi dữ liệu giữa các cơ quan có thẩm quyền;
  • Lưu trữ thông tin và kết quả thực hiện;
  • Tăng cường khả năng bảo đảm an toàn, an ninh thông tin.

Như vậy, pháp luật đã tạo cơ sở để hoạt động tương trợ tư pháp từng bước chuyển từ phương thức trao đổi hồ sơ truyền thống sang môi trường điện tử.

Thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến mới nhất 2026
Thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến mới nhất 2026

4. Hồ sơ tương trợ tư pháp có được thực hiện trực tuyến không?

Đây là vấn đề cần phân biệt rõ.

Luật 102/2025/QH15 quy định hồ sơ yêu cầu tương trợ tư pháp của Việt Nam. Đối với một số nhóm yêu cầu, hồ sơ về nguyên tắc được lập thành các bộ hồ sơ theo quy định. Khi Hệ thống thông tin tương trợ tư pháp về dân sự được vận hành, pháp luật có cơ chế kết hợp hồ sơ giấy với hồ sơ điện tử.

Do đó, không nên hiểu rằng từ ngày 01/07/2026, tất cả hồ sơ tương trợ tư pháp đều được chuyển sang hình thức điện tử hoàn toàn.

Việc thực hiện trực tuyến còn phụ thuộc vào:

  1. Hệ thống thông tin tương trợ tư pháp đã được vận hành;
  2. Nội dung yêu cầu có thuộc phạm vi được thực hiện trên môi trường điện tử;
  3. Điều ước quốc tế có quy định về phương thức điện tử hay không;
  4. Nước được yêu cầu có chấp nhận phương thức này hay không;
  5. Quy định cụ thể của cơ quan có thẩm quyền.

Đây là điểm quan trọng khi tư vấn cho khách hàng có nhu cầu thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến.

5. Tiếp nhận yêu cầu tương trợ tư pháp của nước ngoài trực tuyến

Điều 33 Luật Tương trợ tư pháp về dân sự quy định về tiếp nhận yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự của nước ngoài trên môi trường điện tử.

Theo đó, nếu Việt Nam và nước yêu cầu cùng là thành viên của điều ước quốc tế có quy định về việc trao đổi, tiếp nhận yêu cầu tương trợ tư pháp trên môi trường điện tử thì việc thực hiện được tiến hành theo điều ước quốc tế đó.

Trường hợp hai nước không cùng là thành viên của điều ước quốc tế liên quan hoặc điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên không quy định về vấn đề này, nhưng nước yêu cầu đề nghị chuyển giao yêu cầu trên môi trường điện tử thì Bộ Tư pháp thống nhất với cơ quan, người có thẩm quyền của nước ngoài về cách thức tiếp nhận và trả kết quả.

Quy định này cho thấy việc thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến không hoàn toàn phụ thuộc vào yêu cầu đơn phương của một bên. Cơ chế điện tử phải được thực hiện theo khuôn khổ pháp lý hoặc có sự thống nhất giữa các cơ quan có thẩm quyền.

6. Thực hiện lấy lời khai trực tuyến trong tương trợ tư pháp

Một nội dung đặc biệt đáng chú ý là cơ chế thu thập chứng cứ bằng hình thức lấy lời khai trực tuyến.

Theo Điều 34 Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, cơ quan, người có thẩm quyền của nước ngoài có thể yêu cầu thực hiện việc thu thập chứng cứ bằng hình thức lấy lời khai trực tuyến đối với đương sự nước ngoài có trụ sở hoặc đang cư trú tại Việt Nam.

Tuy nhiên, việc lấy lời khai trực tuyến không được thực hiện tùy ý mà phải đáp ứng các điều kiện theo luật định.

6.1. Phải bảo đảm chủ quyền của Việt Nam

Việc thực hiện lấy lời khai trực tuyến phải bảo đảm nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

Đồng thời, vụ việc không được thuộc trường hợp liên quan đến an ninh quốc gia, chủ quyền, quyền chủ quyền của Việt Nam hoặc có yếu tố phức tạp về chính trị.

6.2. Đương sự phải tự nguyện tham gia

Một điều kiện quan trọng là đương sự phải tự nguyện tham gia việc lấy lời khai trực tuyến.

Quy định này nhằm bảo đảm rằng việc sử dụng công nghệ để thu thập chứng cứ không làm phát sinh một hình thức hoạt động tố tụng đơn phương của cơ quan nước ngoài trên lãnh thổ Việt Nam.

6.3. Phải bảo đảm an toàn, an ninh thông tin

Việc lấy lời khai trực tuyến phải đáp ứng yêu cầu về an toàn, an ninh thông tin và dữ liệu, đồng thời sử dụng công nghệ, đường truyền bảo đảm yêu cầu bảo mật theo quy định.

Như vậy, “trực tuyến” trong tương trợ tư pháp không đơn giản là sử dụng một nền tảng họp video thông thường. Đây là hoạt động có tính chất tố tụng và phải đáp ứng các điều kiện pháp lý, kỹ thuật tương ứng.

7. Trình tự thực hiện lấy lời khai trực tuyến của nước ngoài tại Việt Nam

Đối với yêu cầu của nước ngoài, cơ quan, người có thẩm quyền của nước ngoài phải gửi yêu cầu bằng văn bản đến Bộ Tư pháp.

Bộ Tư pháp có trách nhiệm phối hợp với các cơ quan có liên quan để xem xét và xử lý yêu cầu theo quy định.

Nghị định 158/2026/NĐ-CP quy định chi tiết một số nội dung của Điều 34 Luật Tương trợ tư pháp về dân sự. Nghị định này có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.

Do đó, một cơ quan nước ngoài không thể tự tổ chức việc lấy lời khai trực tuyến tại Việt Nam mà bỏ qua cơ chế tương trợ tư pháp.

Quy trình về cơ bản phải bảo đảm:

Cơ quan nước ngoài có yêu cầu → gửi yêu cầu theo cơ chế pháp luật → Bộ Tư pháp tiếp nhận, phối hợp xử lý → đáp ứng điều kiện luật định → thực hiện lấy lời khai trực tuyến → kết quả được xử lý theo quy định.

8. Thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến có thay thế hoàn toàn phương thức truyền thống không?

Hiện nay, câu trả lời là không nên hiểu theo hướng thay thế hoàn toàn.

Luật 102/2025/QH15 thiết lập cơ sở pháp lý cho môi trường điện tử nhưng đồng thời quy định việc thực hiện phải căn cứ vào điều kiện kinh tế – xã hội, nhu cầu và khả năng thực hiện trong từng thời kỳ.

Điều 35 Luật giao Chính phủ hướng dẫn việc thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự của Việt Nam và nước ngoài trên môi trường điện tử.

Do đó, quá trình chuyển đổi số được thực hiện theo lộ trình, không đồng nghĩa với việc mọi thủ tục giấy tờ truyền thống bị loại bỏ ngay khi Luật có hiệu lực.

Đối với từng hồ sơ cụ thể, cần xác định phương thức được cơ quan có thẩm quyền và nước liên quan chấp nhận.

9. Những hoạt động nào có thể liên quan đến tương trợ tư pháp trực tuyến?

Theo Điều 8 Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, phạm vi tương trợ tư pháp bao gồm:

  • Tống đạt giấy tờ;
  • Thu thập, cung cấp chứng cứ;
  • Triệu tập người làm chứng, người giám định;
  • Cung cấp giấy tờ hộ tịch;
  • Trích lục bản án, quyết định của Tòa án về hộ tịch;
  • Cung cấp thông tin pháp luật;
  • Các hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự khác.

Tuy nhiên, việc một hoạt động thuộc Điều 8 không có nghĩa hoạt động đó mặc nhiên được thực hiện trực tuyến.

Cần phân biệt giữa:

Thứ nhất, trao đổi hồ sơ điện tử: liên quan đến việc gửi, nhận, xử lý và lưu trữ thông tin, hồ sơ.

Thứ hai, thực hiện hoạt động tố tụng trực tuyến: ví dụ lấy lời khai trực tuyến theo Điều 34.

Hai hình thức này có cơ chế pháp lý và điều kiện áp dụng khác nhau.

10. Chi phí khi thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến

Việc chuyển sang môi trường điện tử không đồng nghĩa với việc mọi yêu cầu đều không phát sinh chi phí.

Luật Tương trợ tư pháp về dân sự quy định riêng về chi phí thực hiện tương trợ tư pháp. Nghị định 158/2026/NĐ-CP quy định về thu, nộp chi phí thực tế đối với các trường hợp thuộc phạm vi điều chỉnh.

Thông tư 07/2026/TT-BTP cũng quy định về trình tự, thủ tục thu, nộp chi phí thực tế trong tương trợ tư pháp về dân sự và có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.

Vì vậy, khi thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến, cần phân biệt:

  • Chi phí thực hiện yêu cầu tương trợ;
  • Chi phí dịch thuật;
  • Chi phí liên quan đến việc thu thập chứng cứ;
  • Chi phí kỹ thuật hoặc các khoản chi thực tế nếu phát sinh;
  • Các khoản phí, lệ phí theo quy định pháp luật.

Không nên mặc nhiên cho rằng hồ sơ điện tử đồng nghĩa với miễn toàn bộ chi phí tương trợ tư pháp.

11. Lưu ý khi thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến

11.1. Kiểm tra điều ước quốc tế

Trước tiên cần xác định Việt Nam và nước liên quan có cùng tham gia điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp dân sự hay không.

Nếu có, cần kiểm tra quy định về phương thức gửi, nhận và thực hiện yêu cầu.

11.2. Xác định đúng cơ quan có thẩm quyền

Tương trợ tư pháp được thực hiện thông qua cơ quan, người có thẩm quyền của Việt Nam và nước ngoài. Vì vậy, việc gửi hồ sơ trực tiếp đến một cơ quan nước ngoài không đồng nghĩa với việc đã thực hiện đúng thủ tục tương trợ tư pháp.

11.3. Không tự ý sử dụng nền tảng trực tuyến

Đối với hoạt động lấy lời khai trực tuyến, cần tuân thủ cơ chế do pháp luật quy định. Không nên tự tổ chức cuộc gọi trực tuyến với đương sự tại Việt Nam và coi đó là hoạt động thu thập chứng cứ hợp pháp của nước ngoài.

11.4. Bảo đảm ngôn ngữ và tài liệu

Việc thực hiện trên môi trường điện tử không loại bỏ các yêu cầu về ngôn ngữ, tài liệu kèm theo và hình thức hồ sơ.

11.5. Bảo đảm bảo mật thông tin

Hồ sơ tương trợ tư pháp có thể chứa thông tin cá nhân, tài liệu tố tụng và chứng cứ. Do đó, việc truyền nhận, lưu trữ và khai thác dữ liệu phải bảo đảm yêu cầu về an toàn, an ninh thông tin.

12. Câu hỏi thường gặp về thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến

Có thể thực hiện tương trợ tư pháp hoàn toàn online không?

Không phải mọi trường hợp đều được thực hiện hoàn toàn trực tuyến. Luật 102/2025/QH15 ghi nhận cơ chế điện tử nhưng việc áp dụng phụ thuộc vào hệ thống được vận hành, điều ước quốc tế, quy định triển khai và khả năng thực hiện trong từng thời kỳ.

Cơ quan nước ngoài có được lấy lời khai trực tuyến tại Việt Nam không?

Có thể trong trường hợp đáp ứng đầy đủ điều kiện tại Điều 34 Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, trong đó có yêu cầu về chủ quyền, sự tự nguyện của đương sự và an toàn, an ninh thông tin.

Ai tiếp nhận yêu cầu tương trợ tư pháp trực tuyến của nước ngoài?

Bộ Tư pháp là Cơ quan trung ương của Việt Nam về tương trợ tư pháp về dân sự và có vai trò tiếp nhận, xử lý yêu cầu theo cơ chế được Luật quy định.

Tương trợ tư pháp điện tử có giống lấy lời khai trực tuyến không?

Không. Tương trợ tư pháp điện tử là khái niệm rộng hơn, bao gồm phương thức trao đổi, tiếp nhận, xử lý thông tin trên môi trường điện tử. Lấy lời khai trực tuyến là một hình thức thu thập chứng cứ cụ thể được quy định tại Điều 34.

13. Căn cứ pháp lý mới nhất

Các văn bản cần tham khảo khi thực hiện thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến gồm:

  • Luật Tương trợ tư pháp về dân sự số 102/2025/QH15 ngày 26/11/2025, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026; đặc biệt các Điều 7, 8, 13, 33, 34 và 35.
  • Nghị định 158/2026/NĐ-CP ngày 15/05/2026 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tương trợ tư pháp về dân sự, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.
  • Thông tư 07/2026/TT-BTP ngày 16/05/2026 của Bộ Tư pháp về trình tự, thủ tục thu, nộp chi phí thực tế, thực hiện tống đạt giấy tờ của nước ngoài và các mẫu văn bản trong tương trợ tư pháp về dân sự, có hiệu lực từ ngày 01/07/2026.

Kết luận

Thực hiện tương trợ tư pháp trực tuyến là hướng đi mới trong quá trình hiện đại hóa hoạt động tương trợ tư pháp về dân sự tại Việt Nam. Luật Tương trợ tư pháp về dân sự số 102/2025/QH15 đã tạo cơ sở pháp lý cho Hệ thống thông tin tương trợ tư pháp về dân sự, tiếp nhận yêu cầu của nước ngoài trên môi trường điện tử và lấy lời khai trực tuyến trong những trường hợp đáp ứng điều kiện luật định.

Tuy nhiên, cần phân biệt giữa trao đổi, xử lý hồ sơ trên môi trường điện tử và thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ trực tuyến. Không phải mọi thủ tục tương trợ tư pháp đều được thực hiện hoàn toàn online. Khi xử lý hồ sơ cụ thể, cần kiểm tra điều ước quốc tế, quy định của Luật 102/2025/QH15, Nghị định 158/2026/NĐ-CP và phương thức được cơ quan có thẩm quyền của nước liên quan chấp nhận.

Hy vọng rằng những thông tin bài viết trên sẽ hữu ích cho bạn. Liên hệ Luật sư làm việc tại Văn phòng, chi nhánh ở Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Hà Tĩnh, Nhật Bản,… theo các phương thức sau:

Luật Minh Lang là một trong những Văn phòng luật sư chuyên tư vấn về luật doanh nghiệp hàng đầu tại Việt Nam. Với đội ngũ Luật sư giỏi, uy tín và chuyên nghiệp. Luật Minh Lang tự tin có thể giải đáp tất cả các câu hỏi liên quan đến lĩnh vực này. Chúng tôi có thể hỗ trợ bạn giải quyết thủ tục một cách nhanh chóng, đảm bảo quyền lợi tốt nhất ở tất cả các tỉnh thành của Việt Nam.

Lên đầu trang